“Lạ quá, 30 năm ở Hà Nội mà tôi chưa bao giờ nghe tên Khu tưởng niệm người mất trong nạn đói 1945,” anh tài xế taxi ngạc nhiên nói. Cuối cùng, anh dừng xe trước ngõ 349 phố Minh Khai.
Hành trình từ thành phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội tìm “bể xương người” năm Ất Dậu của tôi đã bắt đầu như thế, từ một địa chỉ đọc được trên mạng.
Đi được một quãng, tôi may mắn tìm được một quán tạp hóa bán đủ nhang đèn. Một cảm giác nhẹ nhõm, khi tôi hỏi đường và được chị chủ quán niềm nở chỉ dẫn: “Chị cứ đi thẳng vào trong sẽ thấy… Ngày xưa đây là nghĩa trang Hợp Thiện đấy ạ…”.
Tôi đến nơi, cánh cổng đã khóa. Đang lúc tôi còn đang thấp thỏm nhìn vào bên trong, một người phụ nữ nhà gần đó đi qua, trên tay cầm theo chìa khóa. Thấy tôi tần ngần, cô mỉm cười, giải thích: “Thầy coi sóc nhang đèn ở đây vừa có việc đi vắng, gửi chìa khóa cho tôi trông giúp. Cô vào thắp hương phải không?”.

Hành trình đến thăm Khu tưởng niệm đồng bào mất trong nạn đói 1945 của tác giả Thiên Mỹ
Cô mở cổng, dẫn tôi vào trong. Giữa không gian tĩnh lặng, linh thiêng, hiện ra trước mắt tôi là tấm bia tưởng niệm với dòng chữ trang trọng: “NƠI AN GIẤC NGÀN NĂM CỦA ĐỒNG BÀO CHẾT VÌ OANH TẠC VÀ NẠN ĐÓI 1944 – 1945”.
Tôi đi vòng ra phía sau, ánh mắt dừng lại nơi một cái bể lớn hình vuông, xây kiên cố. Thấy tôi tò mò, người phụ nữ bắt đầu câu chuyện, giọng cô trầm xuống, như thể đang kể lại một ký ức được truyền qua nhiều thế hệ.
“Đây chính là cái ‘bể xương’ ngày xưa đấy cô ạ,” cô chậm rãi nói. “Các cụ nhà tôi kể lại, năm đói Ất Dậu khủng khiếp lắm. Người ta đi ngoài đường rồi cứ thể đói lả đi, gục xuống… Cứ chiều chiều lại có những chiếc xe bò chở đầy xác người về đây. Cái nghĩa trang này vốn tên là Hợp Thiện, là do một hội những nhà hảo tâm lập ra để lo chôn cất cho những người vô thừa nhận. Nhưng đến năm đói thì không xuể nữa, người chết nhiều quá. Người ta phải đào những cái hố lớn thế này, xây gạch xung quanh rồi cứ thể đưa các thi thể xuống… Người sống khi ấy gọi luôn là bể xương người”.

Nơi đây trung bày nhiều ảnh tư liệu ghi lại chứng tính lịch sử của vô số đồng bào đã mất trong nạn đói và chiến tranh
Cô chỉ tay vào cái bể vuông trước mặt: “Sau này, chính quyền quyết định giữ lại nguyên trạng, rồi xây khu tưởng niệm này ngay trên nền đất cũ để làm nơi thờ tự chung, để con cháu đời sau còn nhớ về một thời kỳ đau thương.”
Tôi đứng lặng người. Mưa bắt đầu rơi tí tách.Trong không khí se lạnh, sau làn khói hương, tôi hình dung ra những đoàn người gầy rạc, lả đi trên đường, bụng lép kẹp, mắt trũng sâu vì đói. Họ chỉ ao ước một củ khoai, một nắm cám để cầm hơi, nhưng ước mơ nhỏ nhoi ấy đã vĩnh viễn không thành hiện thực. Nơi tôi đang đứng đây, ngay sau lớp xi măng và gạch đá này, là nơi an nghỉ cuối cùng, là bằng chứng cho thảm kịch đã cướp đi sinh mạng của hơn hai triệu người Việt.
Chuyến đi này không còn là một hành trình tìm hiểu lịch sử đơn thuần để lấy tư liệu viết cuốn tiểu thuyết Ngẩng mặt thấy trời xanh. Nó đã trở thành một cuộc hành hương về quá khứ, nơi tôi được nghe, được thấy và được cảm nhận nỗi đau của tiền nhân qua lời kể của một người Hà Nội bình dị. Nó nhắc nhở tôi rằng, mỗi con ngõ, mỗi mảnh đất ta đi qua đều có thể ẩn chứa những câu chuyện bi thương mà hào hùng. Và việc của chúng ta là lắng nghe, ghi nhớ và trân trọng sự sống mà thế hệ trước đã đánh đổi bằng cả sinh mạng để giữ gìn.
(Nguồn -Trích từ Nhật ký viết văn của tác giả Thiên Mỹ)

