Nạn Đói 1945: Điều Gì Còn Đáng Sợ Hơn Cái Đói

Nạn đói 1945 nỗi ám ảnh không chỉ cái chết

Nhắc đến Nạn đói 1945, chúng ta thường hình dung ra hình ảnh những tấm thân gầy gò, kiệt quệ vì đói ăn. Nhưng ở miền Bắc ngày ấy, bi kịch còn chồng chất bởi cảnh thiếu mặc, những thân thể lõa lồ giữa cái rét cắt da, cắt thịt trong những ngày đông buốt giá. Cái đói bào mòn thân thể chỉ còn da với xương, khi gặp cái lạnh tê tái từ đất trời, những con người khốn khổ ấy làm gì để chống cự?


1. Văn Học Làm Chứng Nhân

Năm 1937, dẫu nạn đói chưa xảy ra nhưng cuộc sống người dân ngày đó đã thiếu thốn trăm bề. Mùa đông đến, những đứa trẻ sinh ra trong gia cảnh khó khăn chỉ phong phanh trong những chiếc áo mỏng manh, răng môi va vào nhau trong cái rét căm căm.

Nhà văn Thạch Lam đã thấu cảm nỗi khổ đó khi viết truyện ngắn “Gió lạnh đầu mùa” đầy cảm động. Câu chuyện kể về những ngày đầu đông, trông thấy cô bé Hiên hàng xóm nhà nghèo run rẩy trong cái lạnh tê tái, “chỉ mặc có manh áo rách tả tơi, hở cả lưng và tay”. Cậu bé Sơn đã thương tình tặng cho Hiên chiếc áo bông ấm áp tình người.

Nhưng nỗi thiếu ăn, thiếu mặc đến đỉnh điểm khi tác phẩm “Vợ Nhặt” của Kim Lân ra đời. Thời điểm nhà văn viết tác phẩm này, nạn đói đang diễn ra khốc liệt, khiến người dân lâm cảnh kiệt quệ, thây người còng queo đầy đường, đầy chợ. Tác giả đã tả hình ảnh Thị—người phụ nữ mà Tràng “nhặt” được về làm vợ với vẻ ngoài tàn tạ, bởi cái đói bào mòn. “Thị rách quá, quần áo tả tơi như tổ đỉa, thị gầy sọp hẳn đi…”.

Trong dòng chảy văn học hiện thực đó, tiểu thuyết “Ngẩng Mặt Thấy Trời Xanh”, Thiên Mỹ đã khắc họa lại bức tranh mà ở đó, cái đói và cái rét song hành cùng nhau trong đớn đau tột cùng.

“Dưới cái lạnh như kim nhọn chích vào da thịt, thi thoảng trong đoàn người lại có kẻ đổ gục xuống đường. Mới đầu còn có người lại dìu đỡ, xốc người nằm xuống đứng lên đi tiếp nhưng càng đi xa, càng mệt và đói, sức lực cạn kiệt, họ đã quen dần: ai ngã cứ ngã, ai đi cứ tiếp tục đi. Có lúc trong đám đông cũng có người dừng lại, nhưng là để lột lấy tấm áo, manh quần của người vừa chết, mặc vào tấm thân co ro đang chực chờ ngã xuống…”

— Trích Ngẩng Mặt Thấy Trời Xanh | Thiên Mỹ

Nhưng tác giả đã không để thảm kịch đó giết chết hoàn toàn phẩm giá con người. Giữa lúc sinh mệnh chỉ còn tính bằng hơi thở và cái lạnh đang hành hạ, người ta vẫn tìm thấy hơi ấm của tình thâm cuối cùng.

“Anh Dần vội cởi tấm áo của mình, mặc vào cho con. Chỉ độc cái quần ngắn ngủn qua bắp chân, hai hàm răng anh va vào nhau lập cập. Vét chút sức lực tàn tạ, anh Dần cố bế thăng Tí lên. Vừa đi được thêm vài bước, thằng con lọt tỏm khỏi vòng tay anh…”

Thiên Mỹ đã dùng ngòi bút của mình để soi rọi vào tận cùng những thân phận dễ tổn thương này—những nhân vật không chỉ vật lộn với cái đói mà còn chiến đấu với cái rét—để thấy được, dù trong bi kịch tối tăm nhất, tinh thần kiên cường và lòng trắc ẩn của người Việt mãi trường tồn.


👉 [Đọc thêm trích đoạn cảm động về thân phận người nông dân năm 1945 trong sách “Ngẩng Mặt Thấy Trời Xanh” tại đây]

2. Những Bức Ảnh Lịch Sử Chấn Động

Trong quá trình tìm tư liệu viết tiểu thuyết “Ngẩng Mặt Thấy Trời Xanh”, tôi đã xem đi, xem lại nhiều lần những bức ảnh lịch sử của cố nghệ sỹ nhiếp ảnh Võ An Ninh. Sau cảm giác lạnh sống lưng là nỗi buồn day dứt khó tả.

Điều đeo bám tâm trí tôi nhất không phải là những thân thể gầy gò chỉ còn da bọc xương – mà là cảnh tượng người lớn và trẻ em không một mảnh vải che thân.

7ed9c880fe2d11efb0f3a9ff2725ce18 1

Những bức ảnh tố cáo tội ác thực dân và phát xít Pháp – Nhật của cố nghệ sỹ nhiếp ảnh Võ An Ninh

Dọc đường, quanh chợ, dưới những mái hiên tạm bợ, nhà nhiếp ảnh đã bắt gặp nhan nhản cảnh những con người rách rưới, kẻ đóng khố, người trần truồng, tấm thân gầy tong teo đang lả đi vì đói. Họ chờ đợi ai đó bố thí cho miếng ăn cầm hơi qua ngày.

Bức ảnh chụp ba đứa trẻ ở truồng, mặt mũi lem nhem, sau những dẻ xương sườn nổi lên là cái bụng trướng to. Xót xa hơn, ngay cả những bé gái tuổi dậy thì hay đến cả những chàng trai tuổi thiếu niên cũng chung cảnh không có nổi mảnh vải quấn che người. Ở cái tuổi thanh thiếu niên, con người ta dễ ngại ngùng, muốn giấu kín cơ thể nhất, nhưng họ lại không có bất cứ thứ gì để che chắn tấm thân.

Dieu am anh nhat trong tu lieu Nan doi 1945 khong phai la cai doi

Sự lõa lồ ở đây là biểu hiện trần trụi nhất của kiếp người khốn khổ đến tận cùng. Phẩm giá con người bị cái đói chà đạp không thương tiếc. Ánh mắt họ, dù nhìn thẳng hay lảng tránh, đều chất chứa sự trống rỗng, vô định của những linh hồn đang kiệt dần sự sống.

Và rồi, sự đau đớn đạt đến đỉnh điểm với bức ảnh về cái chết trần trụi. Bức ảnh người phụ nữ nằm sõng soài trên nền đất, gầy gò như chỉ còn lại nắm xương, không có một tấm vải liệm khiến ai thấy cũng nhói lòng. Họ ra đi đúng như cách họ sống những ngày cuối cùng: trần trụi, cô độc, và bị lãng quên. Mỗi khuôn hình đen trắng là một lời tố cáo mạnh mẽ mà tội ác thực dân Pháp, phát xít Nhật đã gây ra cho dân ta trong quá khứ.

10

Cụ Võ An Ninh đã dùng ống kính của mình để ghi lại nỗi đau triệu đồng bào vô tội nằm xuống. Dòng chữ “Võ An Ninh. 45” dưới mỗi bức ảnh là một lời thề: chúng ta không thể, và không được phép quên đi thảm kịch này.

3. Nhân Chứng Lịch Sử: Những Chuyện Nghe Thấy Mà Đau Đớn Lòng

Không chỉ có những bức ảnh, những nhân chứng sống từng trải qua nạn đói đã rơi nước mắt khi nhắc lại chuyện xưa.

Ông Lưu Văn Lăng đã viết trong Hồi ký 1945 – 1946 (Tạp chí Xưa và Nay) đầy xót xa:

“… Những người còn sức đi được thì đi thành từng đoàn, họ lê bước trên những nẻo đường về thị xã với bộ quần áo rách rưới, có người gần như trần truồng vì đã bán những bộ quần áo lành lặn để đổi lấy gạo ăn. Cái đói cái rét cắt thịt như thúc giục họ tiến bước về phía trước. Người nào đói quá thì gục xuống để rồi không bao giờ dậy nổi nữa. Hai bên đường, thây người chết đói ngã ra như rạ…”

Còn ông Chu Bá Hoan, quê ở Hà Bắc cũ nhớ mãi những ngày trời tháng 2 còn lạnh, ngoài chợ cảnh những người “quần áo không có, ba, bốn người gục vào nhau mà chết…” diễn ra nhan nhản mỗi ngày. (Trích từ sách Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam – Những chứng tích lịch sử của G.S Văn Tạo – G.S Furuta Moto).

115082022034546

Ngay cả bức thư của Vespy tháng 4-1945 đã viết về cảnh chết đói mà ông được chứng kiến:

“Họ đi thành rặng dài bất tuyệt gồm cả gia đình, già lão có, trẻ con có, đàn ông có, đàn bà có, người nào người ấy rúm người dưới sự nghèo khổ, toàn thân lõa lồ, gầy guộc giơ xương ra run rẩy, ngay cả đến những thiếu nữ đã đến tuổi dậy thì, đáng lẽ hết sức e thẹn cũng thế. Thỉnh thoảng họ dừng lại để vuốt mắt cho một người trong bọn họ đã ngã và không bao giờ dậy được nữa, hay để lột miếng giẻ rách không biết gọi là gì cho đúng hãy còn che thân người đó. Nhìn những hình người xấu hơn con vật xấu nhất, nhìn thấy những xác chết nằm co quắp cạnh đường chỉ có vài nhành rơm vừa làm quần áo, vừa làm vải liệm, người ta thực lấy làm xấu hổ thay cho cái kiếp con người”

(Témoignages et documents français relatifs à la colonisation française au Việt Nam, Hà Nội, 1949, tr. 1-15. Từ tư liệu nghiên cứu lịch sử của G.S Văn Tạo)

4. Nỗi Lòng Của Các Nhà Sử Học

Thảm cảnh Nạn đói năm 1945 là vết thương không thể xóa nhòa trong lịch sử Việt Nam. Dưới đây là những trích dẫn chính xác, đầy xúc động và mang tính học thuật cao từ các nhà sử học, học giả uy tín, những người đã dày công nghiên cứu để lịch sử phải được công minh.

Giáo sư Vũ Khiêu (1916 – 2021)Viện trưởng đầu tiên của Viện Xã hội học Việt Nam

Người trực tiếp viết bài văn tế truy điệu những lương dân chết đói năm 1945 vô cùng thống thiết. Ông nói:

“Tôi là một nhân chứng sống trong thời điểm đó… Khi viết những dòng này, tôi như thấy oan hồn gào réo bên tai, chập chờn dưới cửa. Thê thảm vô cùng! Nay chúng ta có thể tổ chức mít tinh, chào mừng, kỷ niệm… từ Nam chí Bắc, từ xuân sang đông thì chúng ta càng không thể quên ngày tháng đen tối ấy của dân tộc.”

Giáo sư Văn Tạo (1927 – 2006) – Nguyên Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam

Người chủ trì công trình nghiên cứu chuyên sâu “Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam: Những chứng tích lịch sử”. Ông là người đã dùng cả cuộc đời nghiên cứu để đấu tranh cho sự thật lịch sử:

“Tôi sinh ra từ một xóm nhỏ có tới hơn nửa số người chết đói. Lớn lên, tôi trở thành nhà sử học. Tôi muốn lịch sử phải công minh. Tôi muốn đồng bào, người thân của tôi được chia sẻ. Dù sự thật và sự chia sẻ ấy mãi mãi vô hình đối với người đã khuất. Chúng tôi tìm đến sự thật không phải vì thù hận hay đòi hỏi đền bù mà đó là vì hương hồn người chết, tình cảm với giống nòi và vì hòa bình, phát triển của nhân loại.”

Giáo sư Phan Huy Lê (1934 – 2018) – Nguyên chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam

Ông đặt vấn đề tưởng niệm nạn nhân đói trong mạch nguồn văn hóa nhân bản của dân tộc:

“Trên đường thỉnh thoảng chúng ta vẫn thấy những gò, đống gạch đá xếp gọn có cắm vài nén hương hay mảnh gỗ làm bàn thờ. Đó là những nấm mồ tượng trưng để tưởng nhớ, cúng tế người chết vì tai nạn giao thông. Quang Trung xưa đánh quân Thanh xâm lược xong còn lập đàn, xướng văn tế cho những vong hồn chết trận… Đó là nhân bản tâm linh Việt, nên hai triệu nạn nhân chết đói là điều không bao giờ được phai nhạt trong tiềm thức dân tộc.”


Trích dẫn nguồn từ sách Sự thật về nạn đói năm 1945(Qua tư liệu và ký ức lịch sử) của nhà sử học Nguyễn Quang Ân.

Lời Kết

Lịch sử không chỉ là những gì đã qua, mà là bài học phải được khắc ghi cho thế hệ hôm nay và mai sau. Đó là sứ mệnh và cũng là trách nhiệm cao cả của tầng lớp trí thức. Nhưng chúng ta tin rằng, không chỉ các nhà sử học mà toàn thể người dân Việt Nam, bao thế hệ xưa, nay và cả mai sau, sẽ luôn lưu giữ bài học quá khứ thương đau ấy.

Chúng ta cùng nhau bảo vệ, giữ gìn hòa bình. Nhớ về quá khứ lịch sử không phải để chúng ta nuôi dưỡng hận thù, mà để nuôi dưỡng lòng biết ơn sâu sắc với bao lớp cha ông đã hy sinh, để thế hệ sau được sống trong no ấm, hạnh phúc, được hít thở không khí tự do.

Nhắc nhớ quá khứ, chúng ta mới có thể vững vàng bước tiếp, để sai lầm và thảm kịch năm xưa sẽ không bao giờ, và không thể nào, lặp lại trong tương lai.

(Viết Lách VN – Bài viết dựa trên nguồn tổng hợp tư liệu của tác giả Thiên Mỹ)


Untitled design 9

📚 Bạn muốn tìm hiểu sâu sắc hơn về giai đoạn lịch sử đặc biệt này qua lăng kính văn học nhân văn?

Cuốn tiểu thuyết “Ngẩng Mặt Thấy Trời Xanh” của tác giả Thiên Mỹ không chỉ tái hiện lịch sử mà còn thắp lên ngọn lửa hy vọng trong những ngày đen tối nhất. Sau đợt phát hành 500 bản đầu tiên đã hết sách ngay trong tuần đầu, hiện tác phẩm đang được tái bản lần hai để nhiều bạn đọc có cơ hội tiếp cận sách hơn.

👉 [Đặt trước sách Ngẩng mặt thấy trời xanh của Thiên Mỹ tái bản, đặc biệt có hình minh họa tại Fanpage VIẾT LÁCH VN]

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *