SỰ THẬT NẠN ĐÓI ẤT DẬU: AI ĐƯỢC TẤM VÉ “MIỄN TỬ” QUA CƠN ÁC MỘNG 1945?

nạn đói Ất Dậu năm 1945 qua sách lịch sử

Lật lại trang sử nạn đói năm Ất Dậu

Năm 1945, một bóng đen khổng lồ bao trùm lên toàn miền Bắc Bộ. Bóng ma của cái đói đã càn quét đi hàng triệu sinh linh. Nhưng giữa tâm bão ấy, có những người và thậm chí cả gia đình, dòng họ của họ đã sống sót một cách thần kỳ. Lật lại những trang hồ sơ lịch sử từ cuốn “Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam – Những chứng tích lịch sử” của G. S Văn Tạo, G. S Furuta Moto, chúng ta sẽ thấy một bức tranh phân cực nghiệt ngã giữa hai bờ sinh tử.

1. Ai nắm giữ tấm vé thông hành cuộc sống?

Trong cơn đói kém, không phải ai cũng bình đẳng trước cái chết. Lịch sử đã ghi lại những đối tượng được coi là có “hệ thống an toàn” hay thậm chí là “miễn dịch” với nạn chết đói.

Những “ông chủ” có tư điền và dự phòng

Giáo sư Furuta Motoo khi nghiên cứu về Tây Lương đã nhận định một sự thật hiển nhiên nhưng đầy sức nặng: “Có hơn 1 mẫu tư điền là đã như có một hệ thống an toàn trong suốt thời gian xảy ra nạn đói”.

Sự khác biệt nằm ở khả năng dự phòng. Trong khi người nghèo bán tất cả để ăn thì những nhà khá giả có thể bán bớt một phần ruộng đất để cứu đói cho chính mình. Như nhân chứng ở Thạch Môn (Hà Tĩnh) kể lại về hộ ông Cố Hải: “Nhờ có ruộng đất cha ông để lại, bán đi mà ăn nên không chết. Cả họ tôi không ai chết”.

Tầng lớp “Miễn dịch” nhờ quyền lực và vị thế

Đau lòng thay, khi cả dân tộc oằn mình, vẫn có một lớp người được “miễn dịch” nhờ chức dịch và quyền lực. Đó là các lý trưởng, phó lý, tiên thứ chỉ, trương tuần… Họ không chỉ có gia tư, điền sản khá mà còn nắm trong tay quyền phát chẩn, từ đó nảy sinh những góc khuất: “Lý Phù thôn Bùi Xá (Quảng Yên) nhận gạo đem về phát chẩn cho dân, đã chiếm một phần bán đi, còn thì chia cho bà con, gia đình nhiều hơn người khác…”.

Bên cạnh đó, các trí thức nông thôn như thầy giáo, thầy thuốc cũng ít bị chết đói hơn do nhận được sự kính nể và giúp đỡ của dân làng. Những hộ có người đi lính cho Tây, cho Nhật hay cho triều đình phong kiến cũng thuộc diện được bảo vệ trong giai đoạn này.

AI DUOC MIEN AN TU HINH TRONG NAN DOI NAM 1945 2

2. Những ai là nạn nhân bị hủy diệt nhiều nhất?

Nếu ruộng đất là tấm khiên bảo vệ thì sự “vô sản” chính là án tử hình treo lơ lửng. Số liệu thực tế chỉ ra những con số tàn khốc về các đối tượng chết nhiều nhất.

Tầng lớp bần cố nông: Khi “tài sản” chỉ là đôi bàn tay trắng

Đối tượng bị hủy diệt nặng nề nhất chính là nông dân không ruộng đất chuyên đi làm thuê (cố nông) và nông dân ít ruộng đất (bần nông). Tại Tây Lương, nghiên cứu cho thấy các gia đình không ruộng đất có tới 51% số hộ có người chết hơn 2/3 thành viên.

AI DUOC MIEN AN TU HINH TRONG NAN DOI NAM 1945 6

Những con số biết nói khiến người đời sau phải bàng hoàng:

  • Tại Chi Lai (Hải Phòng): Hộ ông Nguyễn Chiến 4 người chết cả 4, hộ Trần Lây 6 người chết cả 6.
  • Tại dân tộc Mường (Yên Quang, Hòa Bình): Những hộ chỉ có 1 sào ruộng công, chuyên làm thuê đều rơi vào cảnh tuyệt diệt như hộ Nguyễn Văn Nhôi (3/3 người chết), Nguyễn Văn Cao (4/4 người chết).

Lao động thủ công và người làm thuê thành thị

Nạn đói không chỉ gõ cửa nhà nông. Những làng nghề thủ công như rèn Đồng Côi (Nam Định), làm nón Thổ Ngọa (Quảng Bình), hay những người làm nghề kéo xe tay ở Phương Thông (Hưng Yên) cũng chịu chung số phận. Thí dụ tại La Khê Bắc (Hà Đông), hộ ông Vũ Nhớn 2 người chết cả 2, Vũ Tận 4 người chết cả 4…

3. Nghịch lý của sự giàu có nhất thời và cái kết đắng

Có những câu chuyện trớ trêu đau lòng được ghi lại trong sách. Đó là trường hợp của những người vốn “khá giả” nhưng lại chết vì sai lầm trong tính toán kinh tế.

“Trường hợp ông Nguyễn Văn Tư chết đói rất đặc biệt. Kinh tế vào loại khá ở trong xóm, nhưng ông đem bán thóc đi mua đồ (vì nhiều người bán đồ thờ, đồ dùng quý như sập gụ, tủ chè quá rẻ) đến lúc vấp đói, xoay không kịp, gia đình bị đói ông bị chết”.

Hay hộ ông Nguyễn Văn Lý làm tuần đình, nhà có 2 con trâu, 3 mẫu ruộng, nhưng vì mải mua sắm đồ đạc không biết dự phòng mà kết cục 16 khẩu chết mất 15. Đây là minh chứng nghiệt ngã rằng: trong nạn đói, mọi giá trị vật chất phù hoa đều trở nên vô nghĩa trước hạt gạo, hạt cơm.

AI DUOC MIEN AN TU HINH TRONG NAN DOI NAM 1945 1

4. Phụ nữ, trẻ em và nỗi đau mang tên từ chết đói đến chết dịch

Một vấn đề nhức nhối mà các nhà nghiên cứu quốc tế quan tâm là tỷ lệ phụ nữ và trẻ em chết trong nạn đói. Tại điểm Nhữ Tỉnh (Hải Dương), trong 351 người chết đói có tới 102 trẻ em dưới 16 tuổi (chiếm 29,05%). Đặc biệt, tỷ lệ nữ giới chết lên tới 45%.

Cái chết không chỉ đến từ dạ dày trống rỗng. Nó còn đến từ những xác chết không người chôn, gây ô nhiễm nguồn nước và bùng phát dịch bệnh. Dịch tả và dịch sốt vàng da (bệnh cháy rận) đã bồi thêm nhát dao chí mạng vào những người còn sót lại. Tại Khả Lý (Bắc Giang), môi trường ô nhiễm đến mức xác người chết không kịp chôn, người sống chỉ kịp kéo xác xuống biển. Tại đây, dịch tả đã cướp đi 25 trên tổng số 168 người chết.

AI DUOC MIEN AN TU HINH TRONG NAN DOI NAM 1945 3

Từ góc nhìn riêng của tác giả Thiên Mỹ

Lật lại những trang sử này không phải để khơi gợi hận thù mà để thấu hiểu giá trị của độc lập, tự chủ và an ninh lương thực. Nạn đói 1945 đã cướp đi sinh mạng hơn 2 triệu người dân vô tội. Dù đau đớn nhưng chúng ta sẽ không bao giờ quên quá khứ bi thương của dân tộc.

Chúng ta thấu hiểu hơn về tầng lớp bần cố nông — những người trực tiếp làm ra hạt lúa nhưng lại là những người đầu tiên bị cái đói xóa sổ. Họ không có ruộng đất, không vị thế, không tiếng nói, chịu cảnh một cổ hai tròng.

Untitled design 30

Để hiểu hơn về số phận của người nông dân trong tiểu thuyết, mời bạn đọc đặt sách tại đây

Càng thấu hiểu quá khứ lịch sử, tôi càng muốn viết về những phận người “khố rách áo ôm” bị đẩy đến bước đường cùng. Đó chính là lý do Thiên Mỹ chọn bà Lưu, Hào làm nhân vật chính trong “Ngẩng Mặt Thấy Trời Xanh”.

Họ không có “tấm vé miễn tử” nào cả. Thứ duy nhất họ có là một tinh thần bất khuất, với tình yêu thương và nghị lực sống phi thường.

Hy vọng, đọc tiểu thuyết Ngẩng mặt thấy trời xanh sẽ giúp độc giả chạm vào một góc nhìn khác của lịch sử — không chỉ có nỗi đau mà còn có sức mạnh từ bùn lầy vươn lên mạnh mẽ.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *